Một ư-kiến

về

THƠ TIẾNG ANH

                                            bài của Người Thơ

*

            Chúng ta đă bước vào thiên-niên-kỷ thứ ba, và sống trong một thời-đại mà các sinh-hoạt chính của mỗi nước, và do đó của mỗi người, đều có chiều-hướng toàn-cầu-hóa, nói nôm-na là mở cửa để tiếp-thu từ toàn-cầu, đồng-thời dấn thân để ḥa-nhập vào toàn-cầu.

            Trong hoàn-cảnh đó, thơ là một trong các sinh-hoạt nói trên.  Bởi thế, đă có khá nhiều bài thơ, tập thơ, sưu/tuyển-tập thơ, của khá nhiều nhà thơ, từ tiếng nước ḿnh được dịch ra tiếng nước ngoài.

            Một trong những ngôn-ngữ thông-dụng nhất trên thế-giới hiện nay là tiếng Anh.  Cho nên, ngoài thơ của các tác-giả người-nói-tiếng-Anh (như Anh, Mỹ, Úc) từ lâu đă có khá nhiều thơ của các người nước khác được dịch ra tiếng Anh.

            Thời-gian gần đây, Việt-Nam cũng đă bắt đầu giới-thiệu thơ của ḿnh với người nước khác, bằng cách sáng-tác trực-tiếp, hoặc phiên-dịch (hay chuyển-ngữ) từ tiếng Việt qua tiếng Anh.

            Có sáng-tác bằng tiếng Anh hay phiên-dịch qua tiếng Anh, th́ mới mong được người nước ngoài đọc đến, chia-sẻ với chúng ta những ǵ mỗi một nhà thơ, đại-diện phần nào cho tâm-hồn Việt-Nam, dân-tộc Việt-Nam, dù trong một hoàn-cảnh nhất-định, gửi-gắm trong từng vần điệu thi-ca.

*

            Sinh-hoạt thơ tiếng Anh của người Việt được thể-hiện qua hai ḍng chính:

            · thơ của các tác-giả ở trong nước; và

            · thơ của các tác-giả định-cư/tị-nạn cộng-sản ở các nước nói tiếng Anh.

*

            Về ḍng thơ tiếng Anh của Việt-Nam quốc-nội, ta thấy hầu như chỉ là thơ phiên-dịch hoặc chuyển-ngữ, chứ không phải là sáng-tác trực-tiếp bằng tiếng Anh.

            Hiện nay đă có một số thi-sưu-tập (của nhiều tác-giả) và thi-tập (của một tác-giả), mà đáng chú ư nhất là các ấn-phẩm do nhóm Nguyễn Bá Chung, thuộc trường đại-học UMB (University of Massachusetts ở Boston) ấn-hành:

            “MOUNTAIN AND RIVER” (Núi Sông, Sông Núi, hoặc Non Sông), do Kevin Bowen, Nguyễn Bá Chung, và Bruce Weigl, phiên-dịch.  Thơ trong tuyển-tập này gồm có những bài được sáng-tác trong khoảng từ 1948 đến 1993, qua 2 cuộc chiến kháng Pháp và chống Mỹ, từ thơ của Hồ Chí Minh đến thơ của Nguyễn Quang Thiều;

            “SIX VIETNAMESE POETS” (6 nhà thơ Việt-Nam), gồm có Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Ư Nghi, Nguyễn Đức Mau, và Phạm Tiến Duật, mà tác-phẩm được viết trong thời-gian “chống Mỹ”, do Kevin và Nguyễn Bá Chung giới-thiệu;

            “DEDICATED TO A DREAM”, “THE ADVENTURE OF THE PHOENIX”, chuyển-ngữ, của Lâm Thị Mỹ Dạ, chung với Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Dũng, Anh Thơ, trong bộ American War and Post-War Poetry;

            “DISTANT ROAD” (Đường Xa), thơ của Nguyễn Duy, do Nguyễn Bá Chung và Bruce Weigl phiên-dịch;

            “THE WOMEN CARRY RIVER WATER” (Các Cô Gánh Nước), thơ của Nguyễn Quang Thiều, thuộc thế-hệ sau-1975, do Martha Collins và Nguyễn Quang Thiều chuyển-ngữ.

            Nhóm Nguyễn Bá Chung cũng thực-hiện:

            “VIETNAMESE POETRY FROM THE WARS” (Thơ Việt Qua Các Cuộc Chiến), một thi-sưu-tập; và

            “POEMS FROM CAPTURED DOCUMENTS” (Thơ Trong Tài-Liệu Địch), nguyên-tác và bản dịch ra tiếng Anh những bài thơ lẫn-lộn trong các tài-liệu bắt được (của đối-phương?).

            Nguyễn Bá Chung và các nhân-vật liên-hệ đều thuộc Trung-Tâm William Joiner (WJC) của trường đại-học UMB, là nhóm chủ-trương viết lại lư-lịch và vị-trí của Người Việt Tị-Nạn Cộng-Sản, mà lại thuê các nhà văn chịu ảnh-hưởng cộng-sản từ trong nước ra thực-hiện dự-án nói trên, nên bị cộng-đồng Người Việt Hải-Ngoại khắp nơi chống-đối quyết-liệt từ mấy năm nay.

            V.v...

            Nói chung, các tập thơ tiếng Anh dịch từ thơ tiếng Việt ở trong nước đều được một số nhân-vật hay tổ-chức ở nước ngoài mà có thiện-cảm với Việt-Nam nội-địa phiên-dịch và ấn-hành.  Nội-dung tổng-quát là để đề-cao cộng-sản Việt-Nam, dù có những bài “vô thưởng, vô phạt” th́ cũng là để cố ư chứng-tỏ rằng công-việc sáng-tác hiện nay ở Việt-Nam đă được tự-do.

            Điều đặc-biệt là tất cả các ấn-phẩm ấy đều đă được kư-nạp vào thư-viện Quốc-Hội Hoa-Kỳ, và một số thư-viện các trường đại-học ở Mỹ và ở các nơi, do có chính-sách của nhà cầm quyền ở trong nước, hoặc chủ-trương của các giới-chức chuyên-môn liên-quan ở nước ngoài.

            Nhân đây chúng tôi cũng kể thêm SPRING ESSENCE (Hương Xuân, tức Xuân Hương), gồm có một số bài thơ của nữ-sĩ Hồ Xuân Hương, do John Balaban, giáo-sư thi-sĩ người Mỹ, ở North Carolina, giới-thiệu.

            Hồ Xuân Hương là của dân-tộc Việt-Nam, chứ không thuộc riêng hàng-ngũ của các nhà thơ hiện nay ở Việt-Nam; nhưng chúng tôi tạm kê vào đây để ghi nhận việc làm của thi-sĩ Mỹ này, đă t́m-ṭi và trân-quư những vần thơ có giá-trị trường-cửu của Việt-Nam, một cách khách-quan và vô-tư, chứ không có hậu-ư hay mưu-đồ ǵ như ai kia.

*

            Về ḍng thơ tiếng Anh của Người Việt Hải-Ngoại, ta thấy có hai nguồn song-song:

            · thơ trực-tiếp sáng-tác bằng tiếng Anh, và

            · thơ phiên-dịch hay chuyển-ngữ qua tiếng Anh.

            Thơ trực-tiếp sáng-tác bằng tiếng Anh th́ được phổ-biến qua ba con đường: đăng-tải rời-rạc, in chung trong các sưu/tuyển-tập, và xuất-bản thành tập riêng.

            V́ là thơ sáng-tác bằng tiếng Anh, nên các tác-giả đă đi thẳng vào các tạp-chí thi-ca của Mỹ, các diễn-đàn thi-ca của Mỹ thực-hiện trên mạng lưới thông-tin toàn-cầu, các sưu/tuyển-tập thơ quốc-tế của Mỹ, Anh, cũng như xuất-bản thành tập theo cung-cách của phương Tây.

            Riêng thơ tiếng Anh đă được ấn-hành thành tập, th́ ta thấy có:

            “AMONG PEOPLE” (Giữa Những Con Người), sáng-tác trực-tiếp, của Nguyễn Phúc Sông Hương, xuất-bản ở Sacramento, Bắc California, Hoa-Kỳ;

            “SHARPENING THE SWORD ON THE SIDELINE” (Bên Trời Mài Kiếm), song-ngữ, của Hà Huyền Chi, do Ngô Đ́nh Chương phiên-dịch, Đàm Trung Pháp hiệu-đính, ấn-loát ở Washington, Hoa-Kỳ;

            “THE PARTING YEAR”, sáng-tác trực-tiếp, của Christine Sa, xuất-bản ở Toronto, Canada;

            “THE SILENCE OF YESTERDAY” (Sự Im-Lặng của Ngày Hôm Qua), song-ngữ, sáng-tác trực-tiếp lẫn chuyển-ngữ, của 22 tác-giả, với các tác-giả tiếng Anh: Vi-Khuê, Ngô Đa Thiện, Ư Yên, Song Nhị, Nguyễn Phúc Sông Hương, Ngô Đức Diễm, Phạm Ngọc, Thanh-Thanh; với các dịch-giả: Huỳnh Sanh Thông, Vơ Đ́nh, Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Đa Thiện, Song Nhị, Ư Yên, Phạm Ngọc, Nguyễn Phúc Sông Hương, Thy Vũ, Hoài Vân Tử, Vĩnh Sinh, Thanh-Thanh; do “Cơ-Sở Thi Văn Cội Nguồn” của Song Nhị và Diên Nghị giới-thiệu, ấn-hành ở San Jose, Bắc California, Hoa-Kỳ;

            “A POEM FOR MY CHILDREN” (Bài Thơ Cho Con), của Nguyễn Mạnh Quang, do tác-giả tự chuyển-ngữ, xuất-bản ở Tacoma, Washington, Hoa-Kỳ;

            “FLOWERS OF LOVE” tức “FLEURS D’AMOUR” (Cụm Hoa T́nh Yêu), thi-sưu-tập tam-ngữ Việt-Anh-Pháp, sáng-tác trực-tiếp lẫn chuyển-ngữ, Tập I (40 tác-giả), Tập II (45 tác-giả), Tập III (66 tác-giả); Tập IV (32 tác-giả); với các tác-giả tiếng Anh: Như-Hoa, Nguyễn Phúc Sông Hương, Thu-Vân, Lê Sỹ Đông, Phạm Nhă Dự, Nguyễn Thị Sen Trắng, Phạm Ngọc, Tyna, Hương Nam, Lê Trọng Nghĩa, Trac Pham, Paul Cao, Kim Phuong Tran, Le Van Ba, Trần Tịnh Như, Lưu Trần Nguyễn, Lê Khắc Lư, Tina Thanh Hương, Nguyễn Thùy Linh, Doan Nam Nhan, Hoài Việt, Đinh Duy Phương, Hoàng Hoa, Hồng Phương, Ly Châu, Vinh Hồ, Thanh-Thanh; với các dịch-giả: Phạm Ngọc, Lưu Hoài, Du Phước Long, Ngô Đa Thiện, Thu Vân, Phan Thị Bạch Nga, Be Davison Herrera, Ali Smaoui, Elsie Whitlow Feliz, Joyce Odam, Lê Sỹ Đông, Nguyễn Trọng B́nh, Nguyễn Đại Thanh, Phạm Nhă Dự, Hoài Việt, Trần Minh Hiền, Vũ Đức Tô Châu, Charles Nguyen, Đào Thanh Khiết, Duy Tường, Như Hoa, Nhụt Nguyệt, Ngọc Nguyệt, Nguyễn Đắc Khoa, Lê Cao Phan, Huỳnh Sanh Thông, Vo Tinh, Vũ Lang, Christopher Vũ, Vơ Thị Xuân Hiệp, Ư Nga,Thanh-Thanh; do “Hội Thơ Tài-Tử Việt-Nam” của Như-Hoa Lê Quang Sinh ấn-hành, ở Sacramento, Bắc California (nay đă dời qua Dallas, Texas), Hoa-Kỳ;

            “POEMS IN RAIN & FLOWERS” (Thơ Trong Mưa & Hoa), thi-sưu-tập song-ngữ của Vi Khuê, với các dịch-giả: Chử Nhất Anh, Chử Nhị Anh, Bernard Detrez, Nguyễn Ngọc Bích, Vơ Đ́nh, Vũ Đức, Nguyễn Huỳnh Diệp, Trần Nhă Hoa, Vi Khuê, Tường Minh, Huỳnh Sanh Thông, Nguyễn Phương Viên, Thanh-Thanh; do “Sao” xuất-bản, ở Virginia, Hoa-Kỳ;

            “THE UNHEALED WOUND” (Vết Thương Chưa Lành), “A NIGHTMARE WAR” (Cuộc Chiến Ác-Mộng), “BLUE RAIN” (Mưa Xanh), của Minh Viên, ấn-hành ở San Francisco, Bắc California, Hoa-Kỳ;

            “THE OLD DAYS” tức “LE VIEUX TEMPS” (Chuyện Ngày Xưa), thi-tập tam-ngữ Việt-Anh-Pháp, của Như-Hoa Lê Quang Sinh, với các dịch-giả: Như Hoa, Duy Tường, Thu Vân, Lê Sỹ Đông, Thanh-Thanh; do “Hội Thơ Tài-Tử Việt-Nam Quốc-Tế” xuất-bản, ở Sacramento, Bắc California, Hoa-Kỳ;

            “DRUNKARD BOXING” (Vơ Say), do “Singing Horse” ấn-hành; “A SMALL TRIUMPH OVER LASSITUDE”, do Leroy Press ấn-hành; “A GLASS OF WATER”, do Skanky Possum Press ấn-hành; đều là sáng-tác trực-tiếp, của Linh Đinh (Đinh Hoàng Linh) ở Philadelphia, Pennsylvania, Hoa-Kỳ;

            “QUIET ALLEY IN THE EVENING” (Chiều Đêm Xóm Vắng), song-ngữ, của Ngô Đ́nh Chương, do tác-giả tự chuyển-ngữ, ấn-hành ở San Jose, Bắc California, Hoa-Kỳ;

            “LOVE POEMS” (Thơ T́nh), tuyển-tập chuyển-ngữ, do “Nhân Chứng” xuất-bản, ở Nam California, Hoa-Kỳ;

            “YOUR ANCIENT SEE THROUGH”, sáng-tác trực-tiếp của Hoa Nguyen, do Skanky Possum Press ấn-hành, ở Texas, Hoa-Kỳ;

            “IN THE MYNAH BIRD’S OWN WORDS, sáng-tác trực-tiếp của Barbara Tran, xuất-bản ở Hoa-Kỳ;

            “SPEECHLESS” của Dien Viet Duong (Dương Viết Điền);

            “MY TORCH” (Ngọn Đuốc của Tôi), sáng-tác trực-tiếp của Bright Quang, ấn-hành ở Redwood City, Bắc California, Hoa-Kỳ;

            Bốn thi-tập của Kim Vũ, một tác-giả sản-xuất mạnh và đều, và tự xuất-bản, ở San Jose, Bắc California, Hoa-Kỳ:

            “SUCH IS MY LOVE, SWEETHEART” (T́nh Anh Như Thế Đấy), song-ngữ, do tác-giả tự chuyển-ngữ;

            “WHEN I LOVE YOU” (Khi Yêu Em); song-ngữ, do tác-giả tự chuyển-ngữ;

            “VIETNAMESE POETRY: A SAMPLER” (Việt Nam: Những Áng Thơ Tuyệt Tác), thi-phẩm của một số tác-giả trong và ngoài nước, do Kim Vũ chuyển-ngữ;

            “THE FINEST PIECES OF MODERN VIETNAMESE POETRY” (Những Áng Thơ Tuyệt Tác Hiện Đại), thơ của một số nhà thơ chọn lọc, do Kim Vũ chuyển-ngữ;

            Một thi-tập của Lê Phạm Lê, ở San Francisco, Bắc California, Hoa-Kỳ;

            Một số thi-tập của Du Tử Lê, ở Nam California, Hoa-Kỳ, trong đó có “TRIBUTES TO MOTHER ON THE WAY HOME VIA PACIFIC OCEAN” (Trường Khúc Mẹ Về Viễn Đông), do Thiên Nhất Phương và Trần Lệ Khánh chuyển-ngữ); v.v...

                       

            Đặc-biệt ở New York, “Quality Paperback Book Club” (Câu-Lạc-Bộ Sách B́a Mỏng) của Hoa-Kỳ đă xuất-bản một cuốn đại-tuyển-tập thơ, nhan đề “WORLD POETRY” (Thơ Thế-Giới).  Đây là một công-tŕnh tương-đối khách-quan, trong đó có một số bài do Nguyễn Ngọc Bích chuyển-ngữ từ tác-phẩm của một số tác-giả Việt-Nam, từ xưa như Vạn Hạnh, Khuông Việt, Măn Giác, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tộng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trăi, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, đến tiền-chiến (Đệ-Nhị Thế-Chiến) như Thế Lữ, Tú Mỡ, đến cả những tác-giả mới như Nguyễn Văn Lạc, Đoàn Văn Khâm, Hà Thị Thảo, Lê Ngọc Hiệp.  Trong số những nhà thơ kể trên, có một tác-giả c̣n sống, được nhiều người chú ư, mà lại là thành-viên của Cộng-Đồng Người Việt Tị-Nạn tại Hải-Ngoại, đó là Du Tử Lê.

            V.v...

*

            Ngoài các thi-tập và thi-sưu-tập (được in thành sách), chúng tôi ghi nhận có những bài thơ được sáng-tác trực-tiếp bằng tiếng Anh và in rời-rạc:

            *của Bùi Tiên Khôi, qua giải “Golden Poet Award”, ở Texas;

            *trong các sưu-tập thơ của Hoa-Kỳ, do các nhà xuất-bản “The National (sau này là International) Library of Poetry” (Thư-Viên Thi-Ca Quốc-Gia/Quốc-Tế) ở Maryland, “Famous Poets Society” (Hiệp-Hội Thi-Nhân Tài-Danh) ở Oregon, “Who’s Who in New Poets” (Thi-Nhân Tài-Danh Đợt Mới) ở New York, “Noble House” (Dưới Mái Thanh-Tao) ở London, của: Châu Mỹ, Đặng Nguyệt, Lê Đạt, Lê Trâm, Phạm Henry Tước, Phạm Kim Khôi, Nguyễn Lương, Nguyễn Phúc, Trần Văn Trương, Hà Bỉnh Trung, Nguyễn Vy Kim Ái, Đỗ Huyền Châu, Lê Ái, Phạm Thị Lư, Trần Bảo, (Nguyễn) Minh Viên, Trần Thị Diệp, Thanh-Thanh, v.v...;

            *trong đặc-san “WordBridge” của “The Writers Post” do N. Saomai chủ-trương, ở Florida, với thơ của: Sông Hồ, Hoàng Xuân Sơn, Song Nhị, Ngô Đức Diễm, Uyển Nicole Dương, N.Saomai, Thanh-Thanh, v.v...

            *trong các đặc-san: “Cỏ Thơm” của Lưu Nguyễn Đhạt ở Virginia, “Đất Đứng” của Nhật-Thịnh và Khuê Dung ở Sacramento, CA; v.v...

            *trong bán-nguyệt-san “Văn Nghệ Tiền Phong” của Hồ Anh ở Virginia; tuần-báo “Saigon Post” của Đặng Nguyên Phả ở Nam California; lưỡng-tuần-báo “Thế-Giới Mới” của Trương Sĩ Lương ở Texas; các nguyệt-san: “Người Việt” của Trần Thiện Đạt ở New York, “Thế-Giới Ngày Nay” của Lê Hồng Long ở Kansas, “Suối Văn” của Ngọc Thủy ở San Jose; tuần-san “Viet magazine” của Nguyễn Châu ở San Jose, CA; v.v...

 

            Ngoài ra, c̣n có những thi-tập tiếng Việt có xen lẫn một vài bài tiếng Anh do chính tác-giả sáng-tác hay do người khác chuyển-ngữ giùm, thí-dụ:

            “NGÀN NĂM GỬI MÂY BAY” của Hồ Mộng Thiệp, có bài dịch của Phan Viết Phùng, Thanh-Thanh;

            “CHẮP CÁNH THƠ” của Khang Lang, có bài dịch của Song Nhị, Ngô Đa Thiện, Thanh-Thanh;

            “TIẾNG HỜN CHIẾN MĂ” (tái-bản) của Song Nhị, có bài dịch của Hồ Thị Tâm, Ngô Đa Thiện, Thanh-Thanh;

            “RỪNG THU XƯA VẪN NHỚ” của Ngọc An, có bài dịch của Dư Phước Long, Nguyễn Gia Liên, Ngô Đa Thiện, Phan Viết Phùng, Thanh-Thanh;

            “GIỮA D̉NG” của Lê Nguyễn, có bài dịch của Song Nhị, Ngô Đa Thiện, Vô T́nh, Minh Khoa, Thu Vân, Phạm Ngọc, Thanh-Thanh;

            “THƠ VIỆT HẢI-NGOẠI” của Thụy-Cầm và Dương Huệ Anh, có bài sáng-tác trực-tiếp của Thanh-Thanh;

            “TIẾNG HÓT CỦA LOÀI CHIM DI” của Song Nhị, có bài dịch của Ngô Đa Thiện, Tony O’Donnell, Thanh-Thanh;

“CAO NGỌN CỜ VÀNG” của Việt Tâm, có bài sáng-tác trực-tiếp của tác-giả;

            “CƠN ÁC-MỘNG” của Thanh-Thanh, có bài sáng-tác trực-tiếp của tác-giả;

 v.v...

*

            Bên cạnh hoạt-động của các nhà thơ đă ra công-chúng, c̣n có nỗ-lực của những cây bút c̣n ngồi trên ghế học-đường, mà thơ của họ được in trên các nội-san, ít được phổ-biến ra ngoài.

            Cũng có những nhà thơ mà v́ hoàn-cảnh sinh sống đặc-biệt ít có cơ-hội tiếp-xúc với các “đồng-nghiệp” từ phía cộng-đồng gốc Việt, thí-dụ một số sinh ra, lớn lên, ở lâu, tiếp-xúc phần lớn thời-gian với người chính gốc sở-tại, nên đă sinh-hoạt văn-học nghệ-thuật, và thơ, trong cùng một giới với nhau, thí-dụ: các Ban Văn-Nghệ & Báo-Chí, các Hội Sinh-Viên, tại các trường trung-học, đại-học; các thành-viên của các tổ-chức chính-lưu như Nhà Hát Lớn, Viện Bảo-Tàng, Cơ-Sở Văn-Hóa, điển-h́nh là Nhóm Ư Thức (Friday@5PM) của Liên Trường Đại-Học Bắc Cali; Nhóm Thơ slam Mai Piece, ở San Francisco, CA, gồm có Anh Đào Đỗ Lê, Jenni Thanh Trang Lê, Taylur Thu Hiền Nguyễn và Long Nguyễn, Bảo Phi...

            Ngoài ra, cũng có một số cá-thể sáng-tác bằng tiếng Anh: Mong-Lan, Quan Barry...

*

            Tưởng cũng nên nhắc đến các hoạt-động thơ trên Internet.  Đây là phương-tiện dễ-dàng, nhanh-chóng, rẻ tiền, nhất là tự-do, để các nhà thơ, dù đă hay chưa thành-danh, phóng thơ của ḿnh, hoặc của người khác mà ḿnh ưa thích, qua các diễn-đàn liên-mạng, ra khắp bốn phương trời.  Các diễn-đàn chú-trọng thơ là: Việt-Nam Thi-Đàn của Lê Hoàng Phong, Cây Me của Đàm Quang Vinh, Vui Cười của Văn Bia, Vườn Thơ Tao Đàn, Silicon Band, v.v...

            Có một số diễn-đàn hoặc tạp-chí ảo, mở hẳn một mục thơ thường-trực, như: Việt Nam Thư Quán; Viet-USA của Tri Nguyen và Nguyễn Quang Dinh; VN Literature; Vietnamese Youth; Đối-Lực (Viet Marketing) của Nguyễn Bá Long; Miền Trung Việt-Nam của Bùi Ngọc Hiệp; Việt Messenger; Văn Học Nghệ Thuật của Lan Phạm; Văn Nghệ Ngàn Phương của Tường Vi; Giao Mùa của Trung Kỳ; Suối Nguồn của Thơ Thơ; VietNam Journal của Đoàn Đức Tâm; Thời Nay của Trần Việt Hải và Đạm Thủy; Đặc Trưng của Nhật Huy; Hồn Quê của Nhật Vũ; Mực Tím của Giọt Nắng và Diên Vy; Ánh Dương của Hoàng Vân; Thi Uyển của Đặng Hiền; Việt Báo; Suối Nguồn Tâm Tư của Thiện Doăn; Gia My; Trinh Nữ; và một số Web site của các nhà thơ: Hà Huyền Chi (trên Mạng của Trinh Nữ và Mạng của Hà Phương Hoài); Song Nhị (trên Mạng Cơ-Sở Thi+Văn “Cội Nguồn”); Thanh-Thanh (trên Mạng ThiNhanVietNam và POETfromVIETNAM), Trần Trung Đạo, Bright Quang; v.v...

            Trên một số diễn-đàn ảo, mới đây thỉnh-thoảng có thêm thơ tiếng Anh sáng-tác trực-tiếp của Trúc Lang.

            Trên Mạng có một danh-mục các tác-giả và tác-phẩm do Luân Hoán sưu-tầm; một “Thư Viện Việt Nam” của Tâm Vô Lệ, tập-trung khá nhiều tác-phẩm, trong đó có thơ, của hầu hết mọi tác-giả gần xa, từ trước đến nay; v.v...

*

            Sách nói chung, thơ nói riêng, mà được kư-nạp tại Thư-Viện của Quốc-Hội Hoa-Kỳ, thư-viện của các trường đại-học Mỹ cũng như các nước khác, là một h́nh-thức và phương-tiện phổ-biến văn-hóa, nếu không muốn nói là tuyên-truyền, rất hữu-hiệu.

            Hiện nay, số sách của Việt-Nam nội-địa th́ đă hiện-diện tại các nơi ấy rất nhiều, trong lúc sách của Cộng-Đồng Người Việt Tị-Nạn Cộng-Sản ở Hải-Ngoại th́ ít hơn.

            Riêng Thư-Viện của Quốc-Hội Hoa-Kỳ được xem như là thư-viện chung cho cả hoàn-cầu.

            Do đó, có một số nhà thơ, và nhà xuất-bản, muốn phổ-biến rộng-răi tác-phẩm của ḿnh, đă không chỉ trông-cậy vào các buổi tŕnh-mại sách, các bài giới-thiệu trên báo & đài, các sạp bày bán, mà c̣n gửi tặng cho càng nhiều thư-viện càng tốt -- hiển-nhiên Thư-Viện Quốc-Hội Hoa-Kỳ là nơi lư-tưởng nhất.

            Các thi-sĩ, và nhà xuất-bản mà chỉ lâu lâu mới xuất-bản một tập thơ, th́ việc có hay không có kư-nạp sách của ḿnh vào Thư-Viện Quốc-Hội Hoa-Kỳ, không thành vấn-đề; nhưng có một số nhà xuất-bản in sách thường-xuyên mà lại không chú-ư đến vấn-đề này th́ là một nhược-điểm.  Nhà xuất-bản “Xây-Dựng” của Thanh-Thanh, Cơ-Sở Thi Văn “Cội Nguồn” của Song Nhị, nhà xuất-bản “Sao” của Vi Khuê, th́ có lưu-tâm đến nơi lưu-trữ bảo-đảm và trường-cửu ấy cho tác-phẩm của ḿnh; c̣n “Hội Thơ Tài-Tử Việt-Nam” của Như Hoa, nhà xuất-bản “Phương Đông” của Dương Huệ Anh, Tủ Sách “Phụ Nữ Thời Nay” của Diễm Châu, th́ không kư-nạp sách của ḿnh vào kho tàng văn-học và văn-hóa ấy của toàn-cầu, thật là đáng tiếc.

            Để giải-quyết vấn-đề này, chúng tôi đề-nghị các tác-giả, các Hội Văn-Học Nghệ-Thuật, các nhà xuất-bản, dù là chuyên-nghiệp hay tùy-hứng, của Người Việt Hải-Ngoại, lưu-ư kư-nạp ấn-phẩm của ḿnh vào Thư-Viện nói trên (v́ có khá nhiều tác-phẩm giá-trị hiện-diện trên thị-trường mà không có mặt trong thư-viện).

            Riêng về việc kư-nạp sách, xin đề-nghị lập thủ-tục xin số “LCCN” (Library of Congress Control Number), nhất là số “ISBN” (International Standard Book Number) để người nghiên-cứu dễ t́m thấy sách của ḿnh trong thư-viện mênh-mông.

*

            Đă nói về thơ th́ không thể không nói về thể thơ.

Thơ Anh cũng như thơ Việt đều có cả thơ-có-vần lẫn thơ-không-vần (tức thơ tự-do, thơ buông, thơ văn xuôi, v.v...).

            Nh́n qua các bài tiếng Anh đă có, dù là sáng-tác trực-tiếp hay phiên-dịch, chúng tôi thấy rơ phần nhiều đều không có vần.  Có thể tác-giả và dịch-giả cho đó là thơ tự-do; nhưng, chúng tôi nghĩ, tuy có h́nh-thức là câu văn xuôi như nhau, nhưng một câu thơ phải có cái ǵ khác hơn một câu văn xuôi -- v́ nếu chỉ là văn xuôi th́ hóa ra đoạn văn nào, trong một bài dài, trong một đoạn dài, mà chỉ cần được ngắt câu xuống hàng, th́ cũng đều là thơ-không-vần?

Đó là chưa kể, dù là văn xuôi, trong nhiều trường-hợp, chính các tác-giả là người Mỹ (Anh, Úc) chính-thống mà cũng c̣n cần phải được các nhà viết thuê (ghost-writer) hiệu-chỉnh, huống ǵ chúng ta đa-số không phải là dân sinh ra đă nói/viết tiếng Anh, mà nay lại làm thơ tiếng Anh.  (Ở đây chúng tôi chưa nói đến nạn dùng sai chữ, dịch phản nghĩa, viết trật văn-phạm tiếng Anh).

            Tuy nhiên, nói thế không phải là để chúng ta ngại-ngần trong việc làm thơ tiếng Anh hay dịch thơ tiếng ḿnh ra thơ tiếng Anh.

            Xin đề-nghị các bạn hăy mạnh-dạn sáng-tác trực-tiếp, hoặc đẩy mạnh việc chuyển-ngữ các tác-phẩm của ḿnh qua tiếng Anh, bắt đầu bằng từng bài một.  Có ai mà không có dịp gặp-gỡ chuyện-tṛ với người nước ngoài; và nếu ḿnh được giới-thiệu là một nhà thơ mà lại có sẵn cả bản tiếng Anh để đưa cho họ đọc th́ cả họ lẫn ḿnh sẽ thích-thú đến ngần nào; huống hồ đăng lên báo, in thành sách, gửi vào thư-viện cho mọi người có thể đọc được, tức là góp phần giới-thiệu văn-học, văn-hóa của nước ḿnh, đến độc-giả các nước ngoài.

*

            Riêng về việc sáng-tác trực-tiếp hoặc chuyển-ngữ thơ qua tiếng Anh, mà muốn thành thơ có vần, chúng tôi xin các bạn để ư một điểm, đó là vần thơ (rhyme) trong tiếng Anh.  Lâu nay, có nhiều bài thơ tiếng Anh mà tác-giả và dịch-giả người Việt muốn viết ra như-có-vần nhưng đều thực-sự không-có-vần.

            Tiếng Anh là tiếng đa-âm, tiếng Pháp cũng là tiếng đa-âm, nhưng có sự khác nhau là trong tiếng Pháp th́ âm (syllable) nào cũng được phát-âm (nhấn giọng) như nhau, giống như các âm trong các từ đa-âm của tiếng Việt; ngược lại, trong tiếng Anh th́ chỉ có một hoặc một số âm là được nhấn giọng (stress, emphasis), c̣n các âm khác th́ không được nhấn giọng cho nên không được xem là một âm trong việc chọn âm để định vần cho thơ.  Thí-dụ:

            “happy” (Anh) và “heureux” (Pháp) là sướng thỏa,

            “merry” (Anh) và “joyeux” (Pháp) là hể-hả,

nhưng, trong tiếng Việt, th́ “sướng thỏa” và “hể-hảăn vần với nhau, v́ ta dùng các âm cuối là “thỏa” và “hả”; cũng như trong tiếng Pháp th́ “heureux” và “joyeux” ăn vần với nhau, v́ ta dùng các âm cuối là “reux” và “yeux”; c̣n trong tiếng Anh th́ “happy” và “merry” không ăn vần với nhau, v́ các âm cuối “py” (trong “happy”) và “ry” (trong “merry”) là âm không được nhấn giọng, nên không được dùng làm vần cho thơ; trong lúc đó th́ “hap” (trong “happy”) và “mer” (trong “merry”) mới là âm được nhấn giọng: nếu ta dùng chúng làm vần cho thơ, th́ chúng lại không ăn vần với nhau, v́ một bên là “hap” và một bên là “mer”!

*

            Tóm lại, chúng ta cần sáng-tác trực-tiếp hoậc phiên-dịch hay chuyển-ngữ thơ tiếng Việt ra tiếng Anh, để tiếng nói đầy t́nh-tự dân-tộc của Người Việt nói chung, của Người Việt Hải-Ngoại nói riêng, không bị quên lăng, hoặc bị lấn-át bởi tiếng nói phi-dân-tộc, trước “bốn biển, năm châu”, trong bối-cảnh toàn-cầu-hóa mọi sinh-hoạt hiện nay.

                                                      NGƯỜI THƠ

                               Hội-viên Văn-Bút Quốc-Tế, Trung-Tâm Hoa-Kỳ