LỜI GIỚI-THIỆU:
Nhân dịp kỷ-niệm “200 Năm Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang (1798-1998)”, các nhân-vật tên-tuổi Ky-Tô-Giáo Việt-Nam và ngoại-quốc đă đặc-biệt biên-soạn và tham-khảo những bài tiêu-biểu tổng-lược sự-tích ấy, để làm tài-liệu căn-bản cho lịch-sử của “biến-cố” nói trên.
Chúng tôi xin trích nêu ra các đoạn chủ-yếu sau đây, để độc-giả khắp nơi thưởng-lăm.
Đức Cố LÊ
CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC HAI TIẾNG “LA VANG”
A/ TÀI-LIỆU:
Báo
“Thằng Mơ” (918 S First St, San
Jose, CA 95110, USA), số 832 ra ngày 28-3-98, có đăng bài “Tinh
Thần La Vang” của Trần Văn
Trí. Một trong các tiểu-mục của bài này là
“Tên La Vang”:
Trong hạt Dinh Cát
có một họ đạo tên là Cổ
Vưu được thành-lập từ
thế-kỷ 17, nay c̣n gọi là xứ Trí
Bưu. Người dân sống bằng nghề “làm
củi” (chính-yếu là chặt những cây nhỏ dùng
để nấu bếp). Theo linh-mục Stanislaô
Nguyễn Văn Ngọc, đặc-điểm trong vùng
là đồng-bào Công Giáo và không-Công-Giáo đoàn-kết
mật-thiết với nhau. Từ thế-kỷ 16, dân
đi làm rú, c̣n gọi là “đi củi”. Họ phá
một sở rẫy giữa rú xanh cách Cổ
Vưu độ 7 cây số để trồng khoai
sắn và cấy lúa. Người dân đặt tên vùng
đó là La Vang.
Đức
giám-mục Hồ Ngọc Cẩn
cho biết: “Ban đêm, phường La
Vang không có sự thinh lặng. Đêm nào người
ta cũng la lối om ṣm. Họ đánh mơ, đánh thùng
rộn ràng, để đuổi các thú dữ như heo
rừng, voi, cọp từ rú xanh ra phá khoai, sắn, lúa, nên
người ta gọi là phường La
Vang.” (Lm Lê Văn Thành: Đức
Mẹ La Vang, 1955, tr. 15-16).
Nhưng giải-thích sau đây của linh-mục Philipphê Lê Thiện Bá, gốc Cổ Vưu, có cơ-sở hơn: “Trong sổ bộ lập từ đời nhà Lê, nơi đó, tức sở rẫy của dân Trí Bưu, gọi là phường Lá Vằng, v́ có nhiều cây lá vằng, một thứ cây có hột đen ăn được và lá là vị thuốc mà phụ-nữ xứ Dinh Cát dùng để uống sau khi sinh đẻ. Về sau người dân đọc Lá Vằng ra La Vang, và nơi Đức Mẹ hiện ra được gọi là linh-địa La Vang.” (Lm Stanislaô Nguyễn Văn Ngọc: Linh-Địa La Vang, tr. 32-34 và Lm Hồng Phúc: Đức Mẹ La Vang, tr. 30-31).
B/ NHẬN-XÉT:
La
Vang đă trở thành một “linh-địa”, và các nhà
viết sử, chủ-yếu là các tu-sĩ Ky-Tô-Giáo, không
thể không t́m hiểu và viết về nó, kể cả
nguồn gốc của địa-danh này. Nhưng ở
đây lại có hai lời giải-thích khác nhau của các
tu-sĩ: một bên là giám-mục Hồ Ngọc Cẩn do linh-muc Lê
Văn Thành kể lại (“La Vang”);
một bên là các linh-mục Lê Thiện Bá,
Nguyễn Văn
Ngọc và Hồng Phúc (“Lá
Vằng”).
a) Bản-thân các tài-liệu:
1-
Tài-liệu của Lm Lê Văn Thành
được xuất-bản năm 1955
(vào đầu
thời-kỳ chấp-chính của tổng-thống Ky-Tô-Giáo
Ngô Đ́nh Diệm, và căn-cứ
vào lời của Gm Hồ Ngọc
Cẩn (“La Vang”).
2-
Tài-liệu của Lm Nguyễn Văn
Ngọc được xuất-bản năm 1978
(ba năm
sau khi CSVN đă chiếm Miền Nam) và căn-cứ vào
lời của Lm Lê Thiện Bá, người
được xem là gốc Cổ Vưu
(“Lá Vằng”).
3-
Tài-liệu của Lm Hồng Phúc
được xuất-bản năm 1997
(sau khi CSVN đă
“đổi mới” và Giáo Hội Ky-Tô-Giáo trong nước
(được CSVN chấp-thuận) đă chuẩn-bị cho đại-hội La Vang
sẽ diễn ra vào năm 1998) (“Lá Vằng”).
b) Thắc-mắc:
1-
Báo “Saigon USA” (345 E Santa Clara St,
#108, San Jose, CA 95113, USA), số 97 ra ngày 14-9-98, có đăng
bài “Linh-Địa La Vang”, trong
đó có đoạn: “... dưới thời hai Cha
Sở: Bonin (Ninh) và Cadière
(Cả). Cha này đă công-tác rất nhiều trong việc
kiến-thiết Linh-Địa La Vang
lúc ban đầu” (năm 1903).
Đó là vào đầu thế-kỷ 20, gần
với sự-tích Đức Mẹ La-Vang hơn các tác-giả
kể trên. Lm Cadière
là một học-giả người Pháp thông-thạo về Việt-Nam (hiểu
biết và có thể giải-thích nhiều điều,
kể cả các điển-tích lịch-sử Trung-Hoa và các
ẩn-dụ văn-học trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du), là một nhân-vật nổi bật trong
Hội Ái-Hữu Cố-Đô Huế (AAVH=Association des Amis
du Vieux Hué) cũng như Trường Viễn-Đông Bác-Cổ
của Pháp. Hơn nữa,
ông đă từng là Cha Xứ Cổ-Vưu (Trí-Bưu) coi cả
La Vang.
Tại sao Lm Cadière (cha Cả)
không hề
nói ǵ về nguồn gốc hay ư-nghĩa của hai
tiếng La Vang?
2- Giám-mục Hồ Ngọc Cẩn (theo Nguyễn Lư Tưởng trong “Linh-Địa La Vang”, là một nhà thông-thái, gốc Quảng-Trị là Tỉnh của La Vang) đă được đồng-bào cả trong lẫn ngoài Ky-Tô-Giáo biết đến. Sau khi ông Ngô Đ́nh Diệm chấp-chính (1954-1963), chính-quyền họ Ngô nói chung và giáo-hội Ky-Tô-Giáo Việt-Nam nói riêng đă nhắm ít nhất là hai chủ-đích: giúp cho tổng-giám-mục Ngô Đ́nh Thục (anh của ông Diệm) được phong hồng-y bằng cách gia-tăng tín-đồ ; và phát-triển tầm quan-trọng của La Vang, v́ một cảnh-trí Đức Mẹ hiện ra chắc hẳn sẽ làm cho quốc-gia sở-tại nổi tiếng khắp thế-giới và lôi-cuốn đông-đảo tín-hữu cũng như du-khách từ xa đến hành-hương. Do đó, lời giải-thích của Gm Hồ Ngọc Cẩn (La Vang là la-lối om-ṣm), hồi đó hẳn là đáng tin-cậy nhất nên Lm Lê Văn Thành đă trích dẫn và xuất-bản vào năm 1955 (là năm ông Diệm lên làm tổng-thống sau khi mới làm thủ-tướng có hơn một năm). Hơn nữa, tại sao suốt nhiều năm trời, kể cả sau khi họ Ngô không c̣n, không hề có ai, nhất là trong giới tu-sĩ Ky-Tô-Giáo (thí-dụ giám-mục Lê Hữu Từ) đưa ra một lời giải-thích nào khác hơn?
3-
Thế th́ Lm Lê Thiện Bá,
được xem là gốc Cổ Vưu,
làm ǵ, ở đâu, trong lúc lời giải-thích của Gm
Hồ Ngọc Cẩn đă
được công-bố từ năm 1955, mà măi đến
năm 1978 (23 năm sau, và 3 năm sau khi CSVN đă
chiếm Miền Nam), mới lên tiếng căi lại rằng
La Vang là Lá
Vằng?
4- La Vang hay Lá Vằng thật ra không thành vấn-đề, mà vấn-đề chính là: Một “tài-liệu” của một giáo-phẩm cao-cấp Ky-Tô-Giáo (giám-mục Hồ Ngọc Cẩn) xuất-bản năm 1955 (giữa thế-kỷ 20 tiến-bộ này) mà đă bị một số tu-sĩ cấp dưới (thí-dụ linh-mục Hồng-Phúc), thuộc cùng giáo-hội, phản-bác, cho là không đúng sự thật; vậy th́ làm sao tin được các “tài-liệu” khác của những người cùng giáo-hội ấy viết ra, từ một thế-kỷ chậm tiến trước đó, lui về cho đến thế-kỷ 16 xa xưa?